Skip to content

Siêu âm trong viêm ruột thừa

January 9, 2012

TỔNG QUAN VỀ VIÊM RUỘT THỪA:
Viêm ruột thừa cấp là bệnh cáp cứu ngoại khoa thương gặp nhất trong đó 70% số trường hợp VRT cấp có bệnh cảnh lâm sàng điển hình. Tần suất mắc bệnh cao nhất ở lứa tuổi 20 – 30. Trong đó chẩn đoán VRT cấp là một chẩn đoán thuộc về các bác sĩ lâm sàng. Tuy nhiên, với những trường hợp không điển hình thì chẩn đoán hình ảnh đóng một vai trò quan trọng nhất định. Tỉ lệ tử vong chung là 1% trong đó chủ yếu là do biến chứng thủng ruột.
1. Nguyên nhân:
Viêm ruột thừa gây nên do sự tắc nghẽn trong lòng ruột thừa. Các nguyên nhân gây tắc nghẽn gồm:
- Do phì đại các nang bạch huyết dưới niêm mạc, gặp trong 60% các trường hợp
- Kẹt sỏi phân – 35%
- Vật lạ – 4%
- Bướu thành ruột thừa hay thành manh tràng đè vào – 1%

2. Triệu chứng cơ năng:
- Đau bụng hố chậu phải, đau thường bắt đầu xuất hiện ở HCP, cũng có trường hợp bắt đầu đau ở thượng vị, quanh rốn sau đó mới khu trú ở HC phải.
Đau âm ỉ, đau liên tục và tăng dần. Ít khi đau thành cơn, nếu có giữa các cơn vẫn đau.
- Nôn và buồn nôn, triệu chứng này có trường hợp có hoặc không.
- Tiêu chảy táo bón có thể có hoặc không.
3. Triệu chứng thực thể:
- Sốt, thông thường không sốt cao, nếu số cao 39-40o chú ý có biến chứng áp xe RT
- Phản ứng vùng hố chậu phải: triệu chứng có giá tri, phải thăm khám theo dõi nhiều lần, so sánh hai bên. Chú ý ở những bệnh nhân già, béo, chửa đẻ nhiều lần dấu hiệu này yếu ớt.
- Điểm đau khu trú:
+ Điểm Mac-Burney.
+ Điếm Clado.
+ Điếm Lanz.
- 1 số dấu hiệu: Blumberg, Rowsing

4. Tiến triển và biến chứng:
Nếu VRT cấp không được mổ sẽ dẫn tới:
- Viêm phúc mạc toàn bộ: Do RT vỡ chảy vào ổ bụng. Lâm sàng thể hiện: Hội chứng nhiễm trùng, bn đau khắp ổ bụng, bí trung đại tiện, chướng bụng do liệt ruột, phản ứng cả khắp ổ bụng.
- Áp xe ruột thừa: Ruột thừa bị vỡ nhưng được mạc nối, các quai ruột bao bọc xung quanh làm hàng rào khu trú vùng viêm không lan ra ổ bụng.
Lâm sàng thể hiện bn vẫn đau HCP và sốt cao, sờ HCP có một khối không di động mặt nhẵn ấn căng đau. Xét nghiệm BC tăng cao.
Áp xe ruột thừa có thể vỡ vào ổ bụng hoặc vỡ ra ngoài gây rò.
- Đám quánh ruột thừa: Do sức đề kháng tốt, viêm ít sự kết dính của quai ruột và mạc treo tốt.
Lâm sàng thể hiện: Đau và sốt giảm, HCP có khối chắc, không di động ấn đau ít. XN BC gảm dần trở lại bình thường. Đám quánh cũng có thể tiến triển theo hai hướng hoặc tan dần hoặc tạo áp xe ruột thừa.

VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN VIÊM RUỘT THỪA
Kỹ thuật khám nghiệm siêu âm để đánh giá ruột thừa được đề cập đến đầu tiên bởi tác giả Puylaert J.B.C.M vào năm 1986, từ đây kỹ thuật siêu âm đã đóng góp vai trò đắc lực trong chẩn đoán và định hướng điều trị VRT. Trong kỹ thuật này bác sĩ sẽ đè ép đầu dò dần dần và nhẹ nhàng trên vùng nhạy cảm nghi ngờ có ruột thừa viêm để khảo sát đồng thời đánh giá sự sưng tấy của ruột thừa đang bị viêm.
Siêu âm có giá trị vì phát hiện ruột thừa viêm có độ nhạy lên đến 98,5%, độ đặc hiệu 98,2%, giá trị tiên đoán dương tính 98% (theo số liệu của Hoa Kỳ) Ngoài ra cũng rất có giá trị để chẩn đoán các bệnh khác gây đau vùng HCP, nhất là bệnh lý phụ khoa và tiết niệu.

Hình ảnh ruột thừa bình thường:

Hình A: ở vùng HCP, thể hiện 1 vòng chứa đầy dịch đường kính 1cm.
Hình B: khi nén và như động ruột bình thường, đường kính ruột thừa giảm còn 5cm

Hình ảnh ruột thừa viêm đơn thuần:

Ruột thừa hình ngón tay
Hình ảnh SÂ cho thấy 1 cấu trúc hình ống (ngay đầu mũi tên) tương ứng với ruột thừa viêm cấp tính. Chú ý lòng ống bị phình (L), echo mạc treo ruột thừa (M), và cấu trúc echo bên ngoài ít phản âm (mũi tên)

Ruột thừa hình bia
- Đường kính RTV lớn hơn 6 mm
- Thành ruột thừa lớn hơn 3mm, ranh giới giữa các lớp có phần nhạt nhòa do tình trạng viêm phù nề .
- Đè ép không xẹp

Hình ảnh ruột thừa nung mủ hoại tử (VRT vỡ: Viêm phúc mạc khu trú hay toàn thể)

Thành ruột thừa dày lên không đồng đều, mất cấu trúc lớp, giảm hồi âm, có thể thành ruột thừa mỏng, lòng chứa đầy dịch mủ. Lúc này khảo sát Doppler cho thấy cho thấy không có sự hiện diện của tín hiệu Doppler báo hiệu cho sự sung huyết của thành ruột thừa

Hình ảnh áp xe ruột thừa:

- Masse: echo kém, echo hỗn hợp và hơi, giới hạn khá rõ
- Nếu ruột thừa hoại tử hoàn toàn, không còn nhận diện được ruột thừa thì để chẩn đoán abscess ruột thừa cần phải thấy được sỏi ruột thừa bên trong ổ abscess

Tuy nhiên có âm tính giả trong 1 số trường hợp:
- Bệnh nhân béo phì – sóng siêu âm khó xuyên sâu
- Liệt ruột hoặc tắc ruột non, hay gặp ở VRT cấp có biến chứng hơi che khuất làm hạn chế khảo sát
- Phản ứng thành bụng – khó thực hiện kỹ thuật siêu âm (khó đè ép đầu dò siêu âm tiệm cận với RTV)
- Bàng quang quá căng, hoặc bệnh nhân đang mang thai trên 6 tháng – khó thực hiện kỹ thuật đè ép
- Vị trí ruột thừa bất thường
- Bác sĩ siêu âm thiếu kinh nghiệm

TÓM LẠI:
Lợi điểm của siêu âm là thời gian thực hiện ngắn, không tiếp xúc với tia, và có khả năng chẩn đoán các nguyên nhân đau bụng khác.
Nhược điểm là độ chính xác phụ thuộc vào người sử dụng.
Siêu âm còn có ích trong chẩn đoán phân biệt với các bệnh phụ khoa, viêm hồi manh tràng, viêm hạch mạc treo ruột, viêm túi thừa manh tràng…

Nguồn: http://www.medscape.com/viewarticle/431119_4

http://hoanmydanang.com/home/index.php?option=com_content&task=view&id=371&Itemid=122

About these ads

From → Uncategorized

Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: